Gengar là Pokémon hệ Ma/Độc, xuất hiện lần đầu ở Thế hệ I. Đây là dạng tiến hóa cuối cùng của Gastly, tiến hóa từ Haunter khi được trao đổi. Gengar nổi tiếng với bản tính tinh nghịch và khả năng ẩn mình trong bóng tối. Người ta nói nó trồi lên từ bóng đêm để cướp đi sinh mạng của những ai bị lạc trong núi. Cơ thể Gengar hoạt động như một bộ tản nhiệt, làm mát khu vực xung quanh gần 5 °C. Trong anime, Gengar có thể bay, nhập vào người và các Pokémon khác, tạo ra ảo ảnh và kéo dài lưỡi thêm vài mét.
Gengar nhận được phần lớn phản hồi tích cực kể từ khi ra mắt, chủ yếu nhờ thiết kế được đánh giá là nổi tiếng và mang tính biểu tượng. Nó thường xuyên đứng cao trong các cuộc bình chọn độ phổ biến của loạt game. Gengar là một trong những thiết kế đầu tiên được hình thành cho Pokémon Red và Blue, và được họa sĩ Ken Sugimori mô tả là một trong những thiết kế yêu thích của ông. Ở Thế hệ VI, Gengar có thêm dạng Mega Evolution, và ở Thế hệ VIII, nó nhận được dạng Gigantamax.
Dữ liệu Pokédex
- Chiều cao: 1,5 m
- Cân nặng: 40,5 kg
- Hệ: Ma/Độc
- Đặc tính: Cursed Body
Sinh sản
- Nhóm Trứng: Vô định hình
- Tỷ lệ giới tính: 50% đực, 50% cái
- Chu kỳ nở trứng: 20 (4.884–5.140 bước)
Mô tả Pokédex qua các phiên bản
- Red/Blue: "Dưới trăng tròn, Pokémon này thích bắt chước bóng của con người và cười nhạo nỗi sợ của họ."
- Gold: "Nó đánh cắp hơi ấm từ môi trường xung quanh. Nếu bạn bỗng thấy ớn lạnh, chắc chắn là có một Gengar vừa xuất hiện."
- Sun: "Các mối quan hệ của Gengar rất méo mó. Nó chẳng quan tâm đến đối thủ trừ khi coi họ là con mồi."
- Sword: "Vào đêm trăng tròn, nếu những chiếc bóng tự di chuyển và cười, hẳn đó là việc của Gengar."
Tiến hóa
Gastly (Cấp 25) → Haunter (Trao đổi) → Gengar
Tập tính và thay đổi qua các thế hệ
- Từ Thế hệ 3 đến 6, Gengar có đặc tính Levitate.
- Ở Thế hệ 7, đặc tính của nó được đổi thành Cursed Body.
- Gengar có thêm dạng Mega Evolution ở Thế hệ 6.
- Ở Thế hệ 8, Gengar nhận được dạng Gigantamax.
- Gengar được biết là ngủ say khi ẩn mình trong bóng của mục tiêu mà nó định nguyền rủa.